22 tháng 7, 2012

Bản Cầu Nguyện Taize

CHƯƠNG TRÌNH TĨNH TÂM
(Familia Ignis Rubrum 29 – 30/04/2012)
CẦU NGUYỆN TAIZE
CHỦ ĐỀ:  HIỆP NHẤT TRONG TÌNH YÊU
+ Dấu thánh giá
+ Hát xin ơn Chúa Thánh Thần
I.  GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ
Chủ sự giới thiệu chủ đề : (Nhạc nền)
 “Lạy Cha Chí Thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con để họ nên một như chúng ta… con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta”(Ga 17,11;20)
(ACE…. thân mến), Đã hơn 2 ngàn năm rồi, lời nguyện của Thầy Giêsu Chí Thánh vẫn còn vang vọng cho đến ngày hôm nay. Giêsu ngày xưa đã cầu xin cho các môn đệ và những tin vào Ngài được ơn hiệp nhất nên một trong tình yêu. Nếu đặt mình trong bầu khí của bữa tiệc ly hôm ấy, chắc hẳn chúng ta sẽ hiểu được lòng của Giêsu hơn, hiểu được khao khát của Ngài hơn. Hiểu được vì sao lúc này lòng Ngài lại hướng trọn về các môn đệ thân yêu và cả chúng ta nữa, dù Ngài đang phải đối diện với bao cam go và thách đố khi chuẩn bị đi vào cuộc thương khó. Hiệp nhất là một ơn thật cao quý.
Hiệp nhất không phải là làm cho mọi người đều có cùng một quan điểm, một suy nghĩ, và tất cả đều khoác lên mình một bộ đồng phục giống nhau. Thực tế, chúng ta rất khác biệt nhau. Dù cùng một màu da, cùng một văn hóa, và cùng một ngôn ngữ; nhưng chúng ta được Chúa dựng nên với những nét độc đáo riêng biệt và với kế hoạch rất riêng Chúa dành cho cho cuộc đời mỗi người. Khoa học cũng cho thấy rằng khả năng giống hệt nhau giữa những con người được sinh ra chỉ còn là 1 trên 70 vạn tỷ. So với khoảng 7 tỉ người trên thế giới hiện nay, khả năng có ai đó giống mình thì rất xa vời.
Hiệp nhất là nên một giữa những khác biệt. Hiệp nhất như một bức tranh mang nhiều màu sắc khác nhau nhưng vẫn hài hòa với nhau và cùng diễn tả một ý nghĩa hay một chủ đề nào đó, như một bản hòa tấu du dương gồm các nốt nhạc cao thấp, mạnh nhẹ khác nhau chứ không phải là tiếng còi tàu một cung hú lên inh ỏi. Chúng ta có thể trở nên hiệp nhờ biết mình đều là con cái cái Chúa, đều mang nơi mình hình ảnh của Ngài. Khi hiệp nhất chúng ta ta được ở trong tình yêu của Giêsu, và cũng là ở trong tình yêu của Chúa Cha.
Tình yêu được nhắc đến như điểm quy chiếu, điểm nối kết tất cả. Không thể nói đến hiệp nhất nếu không có tình yêu. Nếu yêu mến và gắn kết với Giêsu một cách thực sự, thì cũng sẽ yêu thương và gắn kết với nhau. Nhờ tình yêu, cũng sẽ khiêm tốn để cảm thông và chấp nhận nhau. Cũng sẽ cùng nhau nghĩ đến lợi ích lớn hơn thay vì chỉ loay hoay với những tính toán nhỏ mọn của riêng mình. Và khi ấy sẽ có hiệp nhất và bình an. Giêsu là cây nho, chúng ta là cành nho, cành nào không gắn liền với cây thì sẽ bị khô héo và tách rời, hiệp nhất hệ tại cành nho liên kết với cây nho. Để hiệp nhất cần có một tình yêu rất riêng với Giêsu. Giêsu phải là trung tâm cho đời sống của mình.
Ước mong nhờ lời cầu nguyện của Giêsu ngày xưa, bạn và tôi cũng nghe thấy một lời mời nào đó cho chính mình, và cũng biết mau mắn đáp lại. Để rồi chính mình nghiệm thấy niềm vui của sự hiệp nhất và bình an khi được ở trong Chúa là Đấng nhân từ đầy yêu thương. 
Hát: LẮNG NGHE LỜI CHÚA
1. Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con trong đêm tối Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con lúc lẻ loi . Xin cho con cất tíêng lên trả lời vừa khi con nghe Chúa Xin cho con biết thân thưa Lạy Ngài Ngài muốn con làm chi.
ĐK: Lời Ngài là sức sống của con Lời Ngài là ánh sáng đời con Lời Ngài làm chứa chan hy vọng là đường để con hằng dõi bước. Lời Ngài đượm chất ngất niềm vui trọn vẹn ngàn tiếng hát đầy vơi Lời Ngài đổi mới cho cuộc đời Lời Ngài hạnh phúc cho trần ai.
2. Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con trong cuộc sống Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài từng theo bước đời con Xin cho con biết sẳn sàng chờ đợi và vâng nghe theo Chúa Xin cho con biết sẵn sàng thực hành Lời Chúa đã truyền ban.
ĐK: Lời Ngài là sức sống của con Lời Ngài là ánh sáng đời con Lời Ngài làm chứa chan hy vọng là đường để con hằng dõi bước. Lời Ngài đượm chất ngất niềm vui trọn vẹn ngàn tiếng hát đầy vơi Lời Ngài đổi mới cho cuộc đời Lời Ngài hạnh phúc cho trần ai.
(Thinh lặng 3 phút)(Nhạc nền)
II. TIN MỪNG
ĐK: Lời Ngài là sức sống của con Lời Ngài là ánh sáng đời con Lời Ngài làm chứa chan hy vọng là đường để con hằng dõi bước. Lời Ngài đượm chất ngất niềm vui trọn vẹn ngàn tiếng hát đầy vơi Lời Ngài đổi mới cho cuộc đời Lời Ngài hạnh phúc cho trần ai. (Hát 1 lần câu này sau mỗi đoạn Kinh Thánh dưới đây).
Tin mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Gioan (Ga 15, 1 – 17)
Người đọc : " "Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn. Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em. Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy.
Cộng đoàn hát : Lời Ngài là sức sống của con Lời Ngài là ánh sáng đời con... (hát 1 lần)
Người đọc : Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi. Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin. anh em sẽ được như ý. Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy. Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn. Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.
Cộng đoàn hát : Lời Ngài là sức sống của con Lời Ngài là ánh sáng đời con... (hát 1 lần)
Người đọc : Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết. Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.
Cộng đoàn hát : Lời Ngài là sức sống của con Lời Ngài là ánh sáng đời con... (hát 1 lần)
III. LỜI NGUYỆN
Chủ sự :  Anh chị em thân mến,
Trong giây phút thánh thiêng này, chúng ta cùng nhau dâng lên Thiên Chúa là Cha những ý nguyện thiết tha:
(Lời nguyện của anh chị em)
Chủ sự: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Con Chúa đã dùng con đường phục vụ tuyệt hảo để dẫn đưa chúng con từ chỗ ngạo mạn bất tuân trở nên khiêm hạ trong lòng. Xin thương hiệp nhất chúng con, nhờ Thánh Thần Chúa, để qua công việc phục vụ của chúng con, khuôn mặt đích thực của Ngài được tỏa rạng. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.
IV. KINH LẠY CHA
V. LỜI NGUYỆN KẾT THÚC
Chủ sự:  Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin Chúa thương nhận những tâm tình ước nguyện của chúng con vừa dâng lên Chúa trong giờ cầu nguyện này. Nguyện xin Chúa thánh hóa và hướng dẫn chúng con trong thời gian tiếp theo của cuộc sống này để chúng con luôn sống xứng đáng là con Chúa và làm ích cho tha nhân. Xin Chúa cũng chúc lành cho công việc học tập, lao động của chúng con đạt được thành công tốt đẹp.
 Lạy Chúa Giêsu, trong một thế giới chỉ thích đề cao cái tôi và thích nghĩ đến ích lợi cá nhân. Xin cho chúng con trở nên đơn sơ và nhỏ bé, biết quên mình nghĩ đến anh em. Trong một thế giới đầy lừa lọc và gian dối. Xin cho con dám sống chân thật như Chúa dù phải gặp nhiều thách đố gian truân. Cuối cùng xin cho chúng con luôn biết chọn Chúa là trên hết và trước hết trong cuộc đời con, để khi gắn kết với Chúa, con được cũng được gắn kết với anh em, khi hiệp nhất với Chúa, con cũng được hiệp nhất với anh em, và tất cả chúng con được nên một trong tình yêu như Chúa hằng ước mong. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
Cộng đoàn : Amen.
Hát kết thúc:  XIN VÂNG
Mẹ ơi! Đời con dõi bước theo Mẹ. Lòng con quyết noi gương Mẹ. Xin Mẹ dạy con hai tiếng Xin Vâng. Mẹ ơi! Đường đi trăm ngàn gian khó. Hiểm nguy dâng tràn đây đó. Xin Mẹ dạy con hai tiếng Xin Vâng.
ĐK: Xin Vâng / Mẹ dạy con hai tiếng Xin Vâng / Hôm qua hôm nay và ngày mai / Xin Vâng / Mẹ dạy con hai tiếng Xin Vâng / Hôm nay tương lai và suốt đời.
  
Mẹ ơi! Đời con dõi bước theo Mẹ / Lòng con quyết noi gương Mẹ / Xin Mẹ dạy con hai tiếng Xin Vâng. Mẹ ơi! Đường đi phủ đầy bóng tối / Bẫy chông dâng tràn muôn lối / Xin Mẹ dạy con hai tiếng Xin Vâng.
ĐK: Xin Vâng / Mẹ dạy con hai tiếng Xin Vâng / Hôm qua hôm nay và ngày mai / Xin Vâng / Mẹ dạy con hai tiếng Xin Vâng / Hôm nay tương lai và suốt đời.

+ Dấu thánh giá kết thúc

26 tháng 3, 2012

Tiên tri về các Đức Giáo Hoàng cuối cùng

TIÊN TRI VỀ CÁC ĐỨC GIÁO HOÀNG CUỐI CÙNG


Lời ngỏ: Nhân việc Giáo hội đang bầu một vị Giáo hoàng mới, MLCN giới thiệu bài dịch về lời tiên tri của thánh Malachi về các Đức Giáo Hoàng thời cuối. Bài này không có ý gây lo sợ, bởi vì những người tin vào Kitô thì không có gì phải sợ và chính Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã nhất mạnh: "Đừng sợ!". Vì lời tiên tri là của một Giám mục đã được Giáo hội phong thánh, vì thế MLCN phổ biến để quý vị hiểu biết thêm, mỗi người hãy cầu nguyện để xin Thiên Chúa soi sáng khi phân định lời tiên tri này.
-----------------------------------------------------------------------

Thánh Malachi sinh năm 1094 với tên gọi O'Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội với tên gọi Maelmhaedhoc. Tên Maelmhaedhoc được La-tinh ngữ hóa và ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo.
Ngài được thụ phong vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachi qua đời trong lúc hành hương Rôma lần thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachi là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế.
Thánh Malachi có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng từ thời của ngài cho tới ngày tận cùng của thời gian - từ Đức Giáo Hoàng Celestine II cho tới thời tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachi, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng của thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu "Thánh Phêrô người Rôma".
Thánh Malachi viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu có liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô III làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachi mô tả là "từ một người đàn ông nhỏ". Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là "người đàn ông nhỏ". Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachi. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý ở Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachi mô tả với biệt hiệu là "Hoa hồng của Umbria".
Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của Thánh Malachi, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm gây ngạc nhiên. Có tất cả 112 vị Giáo hoàng với những chân tính được liệt kê kể từ Đức Giáo Hoàng Celestine II năm 1143 cho tới thời tận cùng của thế giới.

10 GIÁO HOÀNG SAU CÙNG
1. Đức Giáo Hoàng Piô X 1903-1914, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Lửa cháy bừng", tên thật là Giuseppe Melchiarre Sarto. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, lục điạ Âu châu bùng cháy cuộc chiến tranh như đám lửa cháy lan từ quốc gia này tới quốc gia khác cho mãi tới năm 1914, chiến tranh đã bao phủ toàn bộ lục điạ Âu châu.
2. Đức Giáo Hoàng Benedict XV (1914-1922) biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Tôn Giáo Tiêu Tàn", tên thật là Giacomo Della Chiesa. Đức Giáo Hoàng Benedict XV được biết đến là Đức Giáo Hoàng của chiến tranh, vì lửa chiến tranh bất hòa làn tràn khắp ra thế giới. Ngài đã chứng kiến chủ nghĩa cộng sản đi vào Liên Bang Sô Viết khiến đời sống tôn giáo bị tiêu huỷ, chiến tranh thế giới thứ nhất gây thương vong cho hàng triệu người Kitô giáo như trong cuộc tàn sát ở cánh đồng Flanders và ở nhiều nơi khác.
3. Đức Giáo Hoàng Piô XI (1922-1939), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Đức tin sắt son", tên thật là Achilee Ratti. Là vị Giáo hoàng chứng kiến thế giới chuẩn bị cho một hậu quả của một cuộc chiến để chấm dứt các cuộc chiến. Ngài chứng kiến phong trào phá thai ở Âu châu ra đời, và sự phát triển của chủ nghĩa vô thần được giảng dạy cho các giới trẻ trong các trường đại học và đầu độc để loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đầu óc những người công dân của một trật tự thế giới mới.
4. Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939-1958), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Mục tử thiên thần", tên thật là Eugento Pacelli. Ngài đã dành thời giờ trong thời gian đầu làm giáo hoàng trong lãnh vực ngoại giao của tòa thánh Vatican. Ngài là sự chọn lựa tự nhiên theo sau Đức Giáo hoàng Piô XI vì không có vị lãnh đạo giáo hội nào có đủ kinh nghiệm điều hành giáo hội, và với các lãnh đạo quốc gia trong cuộc xung đột thế giới.
5. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Chủ chăn và thuỷ thủ", tên thật là Angelo Giuseppe Roncalli. Đức Gioan 23 là tổng Giám Mục Areoplis của Palestine trong khoảng thời gian khai sinh quốc gia Dothái, năm 1953 Đức Giáo Hoàng Piô XII phong ngài làm Hồng Y của Venice. Ngài được xem là vị Giáo hoàng được yêu mến nhất trong các Đức Giáo Hoàng cận đại. Những sử học gia tin rằng ngài được Thánh Malachi tiên tri là thuỷ thủ vì thành phố Venice là một thành phố nước. Thế nhưng cũng có thể khi ngài là tổng Giám mục của Palestine, ngài được coi là một "thuỷ thủ rao giảng" bởi vì miền đất của dân ngoại và Hồi giáo có liên quan trong lời tiên tri là "biển cả".
6. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Hoa của các loài Hoa" tên thật là Giovanni Battista Montini, Ngài làm Giáo hoàng trong thời gian 15 năm. Danh hiệu của ngài là là ba bông hoa Iris.
7. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I (1978-1978 - 33 ngày), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "trăng bán nguyệt", tên thật là Albino Buciani, là vị Giáo hoàng chăn dắt Giáo hội trong thời gian ngắn nhất là 33 ngày. Khi ngài được bầu Giáo hoàng ngày 26/8/1978, là thời gian có trăng hình bán nguyệt. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo quá khích chống lại thế giới dân ngoại bùng nổ. Tổ chức OPEC dầu hỏa ra đời, và các quốc gia Ảrập dùng vũ khí dầu hỏa của họ để chống lại các quốc gia kỹ nghệ. Dấu hiệu của Hồi giáo là hình "trăng bán nguyệt".
8. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Nhật thực" hay cũng còn có nghĩa là "Mặt trời lam lũ". Ngài là hoàng tử người Balan của Giáo hội Công giáo. Ngài là vị Giáo hoàng đã có công trong việc làm cho chủ nghĩa cộng sản sụp đổ. Trong suốt 25 năm làm Giáo hoàng, ngài đã tông du nước ngoài trên 100 lần và cái chết lịch sử của Ngài đã lôi kéo trên 3 triệu người tham dự tang lễ. Ngày ngài sinh ra ngày 18/5/1920 vào buổi sáng có hiện tượng nhật thực trên toàn cõi Âu châu, và ngày ngài qua đời cũng có nhật thực bán phần trên vùng trời Bắc Mỹ.
9. Đức Giáo Hoàng kế Đức Giáo Hoàng chót, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Ô-liu rực rỡ". Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Olive. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của hòa bình". Thánh Benedict đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của trật tự thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ.

10. Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachi "Phêrô người Rôma". Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: "trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố trên 7 đồi (Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân".
Trở ngại với những lời tiên tri được liệt kê trong sách Những Lời tiên tri của Thánh Malachi xuất bản bởi Thomas A. Nelson, một nhà sách xuất bản Công giáo thì bản nguyên thuỷ của Thánh Malachi chỉ có 111 Đức Giáo Hoàng, chứ không phải là 112 như trong bản màu nâu xuất bản sau này. Trong khoảng giữa ấn bản thứ nhất và ấn bản sau này thì vị Giáo hoàng 112 là Phêrô Thành Rôma được thêm vào trong lời tiên tri của Thánh Malachi.

Điềm Thời Đại: Đức Bênêdictô XVI, Vị Giáo Hoàng áp cuối của thời sau hết theo lời tiên tri của thánh Malachy, hay mở đầu một thời được chúc phúc?

BY: LM. TRẦN CAO TƯỜNG

Đức Bênêdictô XVI
Vị Giáo Hoàng áp cuối của thời sau hết theo lời tiên tri của thánh Malachy,
hay mở đầu một thời được chúc phúc? Sắp đến ngày tận thế, thời bị nguyền rủa hay khởi đầu một năm hồng ân, một thời ân sủng?
Những ngày sửa soạn bầu giáo hoàng kế vị Đức Gioan Phaolô II, tôi tự nhiên nhớ lại hình như đâu đây có lời tiên tri về các vị giáo hoàng. Thế là tôi đã tìm trong mạng lưới và thấy ngay. Những lời tiên tri này là của thánh Malachy vào năm 1139. Ngài là giám mục giáo phận Armagh bên Ái nhĩ lan. Năm đó ngài có dịp về Roma bái kiến ĐGH Innocentê II. Trong thời gian ở đó, ngài đã thấy một thị kiến về 112 vị giáo hoàng sau đó, liền viết ra và trao cho ĐGH Innocentê II.
Mỗi vị giáo hoàng đều được nói tới qua một câu bằng tiếng La-tinh diễn tả đặc điểm. Những lời tiên tri về các vị giáo hoàng trước đây khá đúng cách này hoặc các khác. Lời tiên tri về ĐGH Gioan Phaolô II là "De Labore Solis" nghĩa là Mặt Trời Lam Lũ. Quả thực cuộc đời của ngài ra đi không ngừng nghỉ cho đến những ngày già cả bệnh tật cuối cùng.
TÊN LÀ BÊNÊĐICTÔ
Buổi tối ngày 18 tháng 4 năm 2005, ngày đầu tiên bầu giáo hoàng mà chưa có kết quả, tôi ngồi đọc những lời tiên tri trong danh sách 112 vị giáo hoàng, thì ĐGH Gioan Phaolô II là thứ 110. Và ĐGH kế vị sẽ là thứ 111, áp cuối cùng trong danh sách.
Đây là vị giáo hoàng áp cuối vào thời sau hết? Câu nói trong lời tiên tri Thánh Malachy về vị giáo hoàng này là "Vinh Quang Ngành Ô-liu" (Gloria Olivae, the Glory of the Olive). Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình. Dòng thánh Bênêdictô nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của cành ô-liu". (The Benedictine order traditionally said this Pope would come from their order). Thánh Benedictô (Biền Đức) đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của trật tự thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ.
Đọc xong tôi tự hỏi liệu những lời trên đây sẽ nghiệm tới cỡ nào. Vì trong các hồng y kỳ này có ai là từ dòng Bênêdictô đâu!
Vậy là ngày hôm sau, 19 tháng 4, vào lúc 5:45 chiều giờ Roma (tức lúc 10:45 sáng giờ New Orleans), tôi mở TV thì thấy khói trắng đang bốc ra từ ống khói trên nóc nhà nguyện Sistine. Mọi người đang tuốn vào công trường thánh Phêrô để chứng kiến giây phút lịch sử. Đúng 6:05 thì chuông nhà thờ thánh Phêrô vang lên reo vui. Và giây phút quan trọng đã đến: đúng 6:40 chiều (giờ Roma) thì ĐHY Jorge Medina Estivez tiến ra bao lơn đền thờ thánh Phêrô tuyên bố: "Habemus Papam" nghĩa là "Chúng Ta Đã Có Giáo Hoàng." Nhiều người hồi hộp chờ đợi, nghĩ rằng vị giáo hoàng mới chắc thế nào cũng lấy tên là Gioan Phaolô III để theo bước chân vị mục tử đang quá nổi tiếng.
Lời tuyên bố tiếp: vị giáo hoàng mới là ĐHY Josef Ratzinger, lấy tên là Bênêdictô XVI.
Nghe vậy tôi bèn giật bắn người lên. Sao lần này lời tiên tri lại có thể đúng quá như thế. Chỉ khác là ĐHY Josef Ratzinger không phải là người thuộc dòng Benedictô, nhưng lại lấy tên là Benedictô để nói lên cái tinh thần của thánh Benedictô chăng?
Thế là biết bao nhiêu suy diễn đầy tràn trên các mạng lưới. Rằng sắp đến ngày tận thế! Vì chỉ còn một vị nữa là hết danh sách! Câu nói tiên tri về vị giáo hoàng cuối cùng, tức thứ 112 là "Phêrô thành Rôma." "Trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội Rôma, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố trên 7 đồi (Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân."

CHAO ĐẢO HAY RÕ HƯỚNG?
Hình như thiên hạ thích suy diễn về ngày tận thế. Ngay thời trước 1975 ở Việt Nam, lâu lâu dân chúng lại đổ đi mua nến vì sẽ có tối trời ba ngày! Rồi tới thời điểm chuyển sang thiên niên kỷ mới, thiên hạ lại càng nhiều xôn xao.
Danh sách chỉ có 112 không có nghĩa là không còn vị nào nữa. Thánh Malachy chỉ nhìn thấy tới đó thì sao? Mà thời tận cùng là thời kỳ gì? Tận cùng các vị giáo hoàng từ Âu châu? Tận cùng thời giáo hội bị điêu đứng, bị chao đảo, bị tấn công từ nhiều phía? Cứ nhìn vào những "bàn tay lông lá" của những "bạo chúa" truyền thông những năm qua và những ngày vừa qua thì rõ. Muốn dán nhãn hiệu xấu hay tốt, bảo thủ hay cấp tiến là cứ tự tiện khuynh đảo hành xử.
Tại sao đức tân giáo hoàng không lấy tên là Gioan Phaolô III mà lại chọn là Bênêđictô XVI? Điều này có liên hệ gì tới cành ô-liu hay tinh thần thánh Biển Đức và dòng Biển Đức?
Những ngày qua, nhiều người đã tiết lộ là ĐHY Josef Ratzinger mỗi lần tĩnh tâm thường tới nhà dòng Monte Cassino ở gần Roma, là nơi thánh Biển Đức đã lập dòng vào thế kỷ thứ 6. Thánh Biển Đức đã khơi lên trong giáo hội một trào lưu nội tâm là đường hướng tốt nhất để vượt qua những chao đảo. Thế là mọi người đều tìm đọc bài giảng của ĐHY Josef Ratzinger trưởng hồng y đoàn trong ngày khai mạc cơ mật hội (với bản dịch rất hay của Đặng Minh An trong vietcatholic). Và vỡ lẽ ra rằng đây không ngờ mà lại là một bài giảng mang tính chất tiên tri và viễn kiến mở hướng đi cho giáo hội đầy tin tưởng lạc quan trong những ngày sắp tới.
"Chúng ta không thể cứ mãi là những trẻ thơ trong đức tin, trong trạng thái vị thành niên. Cứ mãi là những trẻ thơ trong đức tin nghĩa là gì? Thánh Phaolô trả lời: nghĩa là "bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý.. " (Eph 4:14). Một diễn tả rất thời sự!
Biết bao nhiêu làn gió chủ thuyết mà chúng ta đã biết đến trong những thập niên cuối cùng … Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái cực khác: từ Mác Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân; từ chủ nghĩa vô thần tới chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa vô tín đến chủ nghĩa hỗn tạp và vân vân. Nhiều giáo phái mới được đẻ ra mỗi ngày và xảy ra điều mà Thánh Phaolô đã nói về sự lường gạt con người và sự tinh quái nhắm lôi kéo con người đến chỗ lầm lạc (x Eph 4:14). Có một đức tin rõ ràng, theo kinh Tin Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để chính mình "bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý" dường như lại là cách thức hành xử duy nhất thức thời. Người ta đang thành lập một chế độ độc tài của chủ nghĩa tương đối, nó không nhìn nhận điều gì là chung kết và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất."

TIN VUI VỚI CÀNH Ô-LIU
(Chúa nhật 5A Mùa Phục sinh)
Vậy là câu trả lời đã khá rõ. Trong những tù mù xáo trộn bị sóng đánh trôi dạt, hãy tìm vào đời sống nội tâm và bầu khí phụng vụ thánh thiêng như tinh thần của thánh Biển Đức. Đây là lời quả quyết của chính ĐHY Ratzinger trong bài giảng trên:
"Trái lại chúng ta có một mẫu mực khác, đó là Con Thiên Chúa, là người thật. Ngài là thước đo của chủ nghĩa nhân bản đích thật. Đức tin "trưởng thành" không phải là một đức tin trôi theo những làn sóng thời thượng hay mốt mới. Đức tin với vóc dáng đầy đủ và trưởng thành là một đức tin ăn rễ sâu xa nơi tình bằng hữu với Chúa Kitô."
Tin Mừng tuần này cũng trả lời như vậy. Trong lúc các môn đệ xôn xao chao đảo không rõ đường hướng nào, thì Chúa nói: "Chính Thầy là con đường, là sự thật, và là sự sống." (Ga 14:6)
Trong lúc thiên hạ bàn tán về một ngày tận thế mơ hồ nào đó, trong lúc nhân loại càng lún sâu vào xô xát giẫy giụa do những xung khắc tham vọng quyền lực hay những bùa phép toàn cầu của "trật tự mới", khiến lòng người chao đảo, tâm hồn tín hữu xôn xao mất hướng đi, ĐGH Biển Đức XVI đang mở hướng đối thoại hòa giải và hóa giải. Mọi người đang chờ đợi một vị lãnh đạo, với cành ô-liu vinh thắng, tiếp tục hô to như ĐGH Gioan Phaolô II: "Đừng Sợ!" Vì chính Chúa là con đường và là người dẫn đường. Dù chỉ với con người dòn mỏng, ĐGH Gioan Phaolô II đã làm thay đổi thế giới và lòng người thời đại. Dù với bàn tay run rẩy của tuổi già bệnh tật, ĐGH Gioan Phaolô II vẫn thu hút cả mấy triệu người trẻ trong mỗi dịp đại hội giới trẻ thế giới. Và ngay dù đã nằm xuống, xác thân bất động, con người với ơn thánh đó đã kéo biết bao triệu người tuốn về Roma trong ngày vỗ cánh bay lên. Đó là sức mạnh của niềm tin và của con tim nhân ái xóa bỏ được mọi làn ranh.
"Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa." (Gioan 14:12)

TỪ MỘT THỜI BỊ NGUYỀN RỦA TỚI MỘT THỜI ĐƯỢC CHÚC PHÚC
Sắp sửa tận thế hay sửa soạn một thời ân sủng? Bài giảng mang chất tiên tri này đã xướng lên ngay từ đầu: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh này" (Lc 4:21), là "công bố một năm hồng ân của Chúa."
Bênêdictô từ tiếng La-tinh có nghĩa là Được Chúc Phúc, Được Ban Hồng Ân. Ở đây chữ "Lòng Thương Xót Chúa" (Divine Mercy) được nhắc đi nhắc lại. Bởi chính Đức Kitô đã bằng lòng mang lấy "toàn bộ gánh nặng của sự ác, toàn thể quyền năng hủy diệt của nó." Ngài đã trả giá cho những hồng ân đó bằng nhận lấy "ngày báo phục của Thiên Chúa" (Is 61:2)
"Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá"(1 Pet 2:24). Và Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Galát: "Đức Ki-tô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ! Như thế là để nhờ Đức Giê-su Ki-tô, các dân ngoại cũng được hưởng phúc lành dành cho ông Áp-ra-ham, và để nhờ đức tin, chúng ta nhận được ơn Thiên Chúa đã hứa tức là Thần Khí." (Gal 3:13).
Như thế, thay vì nhiều người cứ nghĩ tới ngày "bị nguyền rủa," bằng chính những hành động tự hủy của con người như thảm cảnh Nhà Tháp Đôi ở New York hay những vụ ôm bom tự sát để "đóng cửa trần gian," đức tân giáo hoàng mang danh hiệu đầy chất tiên tri "Được Chúc Phúc" đang mở ra một thời hồng ân do Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại. Đây lại chẳng phải là một lời tiên tri trong một viễn kiến đầy tin tưởng, hy vọng và tươi sáng hay sao?
Nguồn: Sưu tầm

265 triều đại Đức Giáo Hoàng


Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
265Benedict XVI19 April 2005 – presentMarktl am Inn, Bavaria, Germany
264John Paul II16 October 1978 – 2 April 2005
(26 năm)
Wadowice, Poland
263John Paul I26 August 1978 – 28 September 1978
(33 ngày)
Forno di Canale (now Canale d’Agordo), Veneto, Italy
262Paul VI21 June 1963 – 6 August 1978
(15 năm)
Concesio, Brescia, Italy
261John XXIII, O.F.S.28 October 1958 – 3 June 1963
(4 năm)
Sotto il Monte, Bergamo, Italy
260Pius XII, O.F.S.2 March 1939 – 9 October 1958
(19 năm)
Rome, Italy
259Pius XI, O.F.S.6 February 1922 – 10 February 1939
(17 năm)
Desio, Lombardy-Venetia, Austrian Empire
258Benedict XV, O.F.S.3 September 1914 – 22 January 1922
(7 năm)
Genoa, Kingdom of Sardinia
257Pius X, O.F.S.4 August 1903 – 20 August 1914
(11 năm)
Riese, Lombardy-Venetia, Austrian Empire
256Leo XIII, O.F.S.20 February 1878 – 20 July 1903
(25 năm)
Carpineto Romano, Rome – Italy





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
255Pius IX, O.F.S.16 June 1846 – 7 February 1878
(31 năm)
Senigallia, Marche, Papal States
254Gregory XVI, O.S.B. Cam.2 February 1831 – 1 June 1846
(15 năm)
Belluno, Republic of Venice
253Pius VIII31 March 1829 – 1 December 1830
(1 năm)
Cingoli, Marche, Papal States
252Leo XII28 September 1823 – 10 February 1829
(5 năm)
Genga or Spoleto, Papal States
251Pius VII, O.S.B.14 March 1800 – 20 August 1823
(23 năm)
Cesena, Papal States
250Pius VI15 February 1775 – 29 August 1799
(24 năm)
Cesena, Papal States
249Clement XIV, O.F.M. Conv.19 May 1769 – 22 September 1774
(5 năm)
Sant’ Arcangelo di Romagna, Papal States
248Clement XIII6 July 1758 – 2 February 1769
(10 năm)
Venice, Republic of Venice
247Benedict XIV17 August 1740 – 3 May 1758
(17 năm)
Bologna, Papal States
246Clement XII12 July 1730 – 6 February 1740
(9 năm)
Florence, Grand Duchy of Tuscany





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
245Benedict XIII, O.P.29 May 1724 – 21 February 1730
(5 năm)
Gravina in Puglia, Kingdom of Naples
244Innocent XIII8 May 1721 – 7 March 1724
(2 năm)
Poli, Lazio, Papal States
243Clement XI23 November 1700 – 19 March 1721
(20 năm)
Urbino, Marche, Papal States
242Innocent XII12 July 1691 – 27 September 1700
(9 năm)
Spinazzola, Kingdom of Naples
241Alexander VIII6 October 1689 – 1 February 1691
(1 năm)
Venice, Republic of Venice
240Innocent XI(12 năm)Como, Duchy of Milan
239Clement X29 April 1670 – 22 July 1676
(6 năm)
Rome, Papal States
238Clement IX20 June 1667 – 9 December 1669
(2 năm)
Pistoia, Grand Duchy of Tuscany
237Alexander VII7 April 1655 – 22 May 1667
(12 năm)
Siena, Grand Duchy of Tuscany
236Innocent X15 September 1644 – 7 January 1655
(10 năm)
Rome, Papal States





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
235Urban VIII6 August 1623 – 29 July 1644
(20 năm)
Florence, Duchy of Florence
234Gregory XV9 February 1621 – 8 July 1623
(2 năm)
Bologna, Papal States
233Paul V16 May 1605 – 28 January 1621
(15 năm)
Rome, Papal States
232Leo XI1 April 1605 – 27 April 1605
(27 ngày)
Florence, Duchy of Florence
231Clement VIII30 January 1592 – 3 March 1605
(13 năm)
Fano, Marche, Papal States
230Innocent IX29 October 1591 – 30 December 1591
(63 ngày)
Bologna, Papal States
229Gregory XIV5 December 1590 – 15/16 October 1591
(315/316 ngày)
Somma Lombardo, Duchy of Milan
228Urban VII15 September 1590 – 27 September 1590
(13 ngày)
Rome, Papal States
227Sixtus V, O.F.M. Conv.24 April 1585 – 27 August 1590
(5 năm)
Grottammare, Marche, Papal States
226Gregory XIII13 May 1572 – 10 April 1585
(12 năm)
Bologna, Papal States





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
225Saint Pius V, O.P.7 January 1566 – 1 May 1572
(6 năm)
Bosco, Duchy of Milan
224Pius IV26 December 1559 – 9 December 1565
(5 năm)
Milan, Duchy of Milan
223Paul IV23 May 1555 – 18 August 1559
(4 năm)
Capriglia Irpina, Campania, Kingdom of Naples
222
9 April 1555 – 30 April or 1 May 1555
(22/23 ngày)
Montefano, Marche, Papal States
221Julius III7 February 1550 – 29 March 1555
(5 năm)
Rome, Papal States
220Paul III13 October 1534 – 10 November 1549
(15 năm)
Canino, Lazio, Papal States
219Clement VII26 November 1523 – 25 September 1534
(11 năm)
Florence, Republic of Florence
218Adrian VI9 January 1522 – 14 September 1523
(1 năm)
Utrecht, Bishopric of Utrecht, Holy Roman Empire
217Leo X9 March 1513 – 1 December 1521
(8 năm)
Florence, Republic of Florence
216Julius II31 October 1503 – 21 February 1513
(9 năm)
Albisola, Republic of Genoa





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
215Pius III22 September 1503 – 18 October 1503
(27 ngày)
Siena, Republic of Siena
214Alexander VI11 August 1492 – 18 August 1503
(11 năm)
Xàtiva, Kingdom of Valencia, Crown of Aragon
213Innocent VIII29 August 1484 – 25 July 1492
(7 năm)
Genoa, Republic of Genoa
212Sixtus IV, O.F.M.9 August 1471 – 12 August 1484
(13 năm)
Celle Ligure, Republic of Genoa
211Paul II30 August 1464 – 26 July 1471
(6 năm)
Venice, Republic of Venice
210Pius II19 August 1458 – 15 August 1464
(5 năm)
Corsignano, Republic of Siena
209Callixtus III8 April 1455 – 6 August 1458
(3 năm)
Xàtiva, Kingdom of Valencia, Crown of Aragon
208Nicholas V6 March 1447 – 24 March 1455
(8 năm)
Sarzana, Republic of Genoa
207Eugene IV, O.S.A.3 March 1431 – 23 February 1447
(15 năm)
Venice, Republic of Venice
206Martin V11 November 1417 – 20 February 1431
(13 năm)
Genazzano, Papal States





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
2 năm không chọn được giáo hoàng.4 July 1415 – 11 November 1417
(2 năm)
205Gregory XII30 November 1406 – 4 July 1415
(8 năm)
Venice, Republic of Venice
204Innocent VII17 October 1404 – 6 November 1406
(2 năm)
Sulmona, Kingdom of Naples
203Boniface IX2 November 1389 – 1 October 1404
(14 năm)
Naples, Kingdom of Naples
202Urban VI8 April 1378 – 15 October 1389
(11 năm)
Naples, Kingdom of Naples
201Gregory XI30 December 1370 – 26 March 1378
(7 năm)
Maumont, Limousin, France
200Urban V28 September 1362 – 19 December 1370
(8 năm)
Grizac, Languedoc, France
199Innocent VI18 December 1352 – 12 September 1362
( năm)
Les Monts, Limousin, France
198Clement VI7 May 1342 – 6 December 1352
(10 năm)
Maumont, Limousin, France
197Benedict XII20 December 1334 – 25 April 1342
(7 năm)
Saverdun, County of Foix, France
196John XXII7 August 1316 – 4 December 1334
(18 năm)
Cahors, Quercy, France





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
2 năm không chọn được giáo hoàng.20 April 1314 – 7 August 1316
(2 năm)
195Clement V5 June 1305 – 20 April 1314
(8 năm)
Villandraut, Gascony, France
194Benedict XI22 October 1303 – 7 July 1304
(260 ngày)
Treviso, Italy, Holy Roman Empire
193Boniface VIII24 December 1294 – 11 October 1303
(8 năm)
Anagni, Papal States, Holy Roman Empire
192Celestine V5 July 1294 – 13 December 1294
(223 ngày)
Sant’ Angelo Limosano, Kingdom of Sicily
2 năm không chọn được giáo hoàng.4 April 1292 – 5 July 1294
(2 năm)
191Nicholas IV22 February 1288 – 4 April 1292
(4 năm)
Lisciano, Papal States, Holy Roman Empire
190Honorius IV2 April 1285 – 3 April 1287
(2 năm)
Rome, Papal States, Holy Roman Empire
189Martin IV22 February 1281 – 28 March 1285
(4 năm)
Meinpicien, Touraine, France
188Nicholas III25 November 1277 – 22 August 1280
(2 năm)
Rome, Papal States, Holy Roman Empire
187John XXI8 September 1276 – 20 May 1277Lisbon, Portugal
186Adrian V11 July 1276 – 18 August 1276
(39 ngày)
Genoa, Republic of Genoa, Holy Roman Empire





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
185Innocent V21 January 1276 – 22 June 1276County of Savoy, Holy Roman Empire
184Gregory X1 September 1271 – 10 January 1276
(4 năm)
Piacenza, Italy, Holy Roman Empire
2 năm không chọn được giáo hoàng.29 November 1268 – 1 September 1271
(2 năm)
183Clement IV5 February 1265 – 29 November 1268
(3 năm)
Saint-Gilles, Languedoc, France
182Urban IV29 August 1261 – 2 October 1264
(3 năm)
Troyes, County of Champagne, France
181Alexander IV12 December 1254 – 25 May 1261
(6 năm)
Jenne, Papal States, Holy Roman Empire
180Innocent IV25 June 1243 – 7 December 1254
(11 năm)
Genoa, Republic of Genoa, Holy Roman Empire
179Celestine IV25 October 1241 – 10 November 1241
(17 ngày)
Milan, Italy, Holy Roman Empire
178Gregory IX19 March 1227 – 22 August 1241
(14 năm)
Anagni, Papal States, Holy Roman Empire
177Honorius III18 July 1216 – 18 March 1227
(10 năm)
Rome, Papal States, Holy Roman Empire
176Innocent III8 January 1198 – 16 July 1216Gavignano, Papal States, Holy Roman Empire





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
175Celestine III21 March 1191 – 8 January 1198Rome, Papal States, Holy Roman Empire
174Clement III19 December 1187 – 20 March 1191Rome, Papal States, Holy Roman Empire
173Gregory VIII21 October 1187 – 17 December 1187Benevento, Papal States, Holy Roman Empire
172Urban III25 November 1185 – 19 October 1187Cuggiono, Italy, Holy Roman Empire
171Lucius III1 September 1181 – 25 November 1185Lucca, Italy, Holy Roman Empire
170Alexander III7 September 1159 – 30 August 1181Siena, Italy, Holy Roman Empire
169Adrian IV4 December 1154 – 1 September 1159Abbots Langley, Hertfordshire, Kingdom of England
168Anastasius IV8 July 1153 – 3 December 1154Rome, Papal States, Holy Roman Empire
167Eugene III15 February 1145 – 8 July 1153Pisa, Republic of Pisa, Holy Roman Empire
166Lucius II12 March 1144 – 15 February 1145Bologna, Papal States, Holy Roman Empire





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
165Celestine II26 September 1143 – 8 March 1144Città di Castello, Papal States, Holy Roman Empire
164Innocent II14 February 1130 – 24 September 1143Rome, Papal States, Holy Roman Empire
163Honorius II15 December 1124 – 13 February 1130Fiagnano, Papal States, Holy Roman Empire
162Callixtus II2 February 1119 – 13 December 1124Quingey, County of Burgundy, Holy Roman Empire
161Gelasius II24 January 1118 – 28 January 1119Gaeta, Principality of Capua
160Paschal II13 August 1099 – 21 January 1118Bleda, Papal States, Holy Roman Empire
159Urban II12 March 1088 – 29 July 1099Lagery, County of Champagne, France
158Victor III24 May 1086 – 16 September 1087Benevento, Duchy of Benevento
157Gregory VII22 April 1073 – 25 May 1085Sovana, Italy, Holy Roman Empire
156Alexander II30 September 1061 – 21 April 1073Milan, Italy, Holy Roman Empire





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
155Nicholas II6 December 1058 – 27 July 1061Château de Chevron, Kingdom of Arles
154Stephen IX2 August 1057 – 29 March 1058Duchy of Lorraine, Holy Roman Empire
153Victor II13 April 1055 – 28 July 1057Kingdom of Germany, Holy Roman Empire
152Leo IX12 February 1049 – 19 April 1054Eguisheim, Swabia, Holy Roman Empire
151Damasus II17 July 1048 – 9 August 1048Pildenau, Duchy of Bavaria, Holy Roman Empire
150Benedict IX08 November 1047 – 17 July 1048Rome, Papal States, Holy Roman Empire
149Clement II24 December 1046 – 9 October 1047Hornburg, Duchy of Saxony, Holy Roman Empire
148Gregory VI05 May 1045 – 20 December 1046Rome, Papal States, Holy Roman Empire
147Benedict IX10 April 1045 – 1 May 1045Rome, Papal States, Holy Roman Empire
146Sylvester III20 January 1045 – 10 February 1045Rome, Papal States, Holy Roman Empire





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
145Benedict IX1032 – 1044Rome, Papal States, Holy Roman Empire
144John XIXApril/May 1024 – 20 October 1032/td>Rome, Papal States, Holy Roman Empire
143Benedict VIII18 May 1012 – 9 April 1024Rome, Papal States, Holy Roman Empire
142Sergius IV31 July 1009 – 12 May 1012Rome, Papal States, Holy Roman Empire
141John XVIII/td>25 December 1003 – July 1009Rapagnano, Papal States
140John XVIIJune 1003 – December 1003Rome, Papal States
139Sylvester II2 April 999 – 12 May 1003Auvergne region of France
138Gregory V3 May 996 – 18 February 999Germany, Holy Roman Empire
137John XVAugust 985 – March 996Rome
136John XIVDecember 983 – 20 August 984Pavia





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
135Benedict VIIOctober 974 – 10 July 983Rome
134Benedict VI19 January 973 – June 974Rome, Papal States
133John XIII1 October 965 – 6 September 972Rome
132Leo VIIIJuly 964 – 1 March 965Rome
131Benedict V22 May 964 – 23 June 964Rome
130John XII16 December 955 – 14 May 964Rome
129Agapetus II10 May 946 – December 955Rome
128Marinus II30 October 942 – May 946Rome
127Stephen VIII14 July 939 – October 942Germany
126Leo VII3 January 936 – 13 July 939Rome





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
125John XIFebruary/March 931 – December 935Rome
124Stephen VIIDecember 928 – February 931Rome
123Leo VIMay 928 – December 928Rome
122John XMarch 914 – May 928Romagna, Italy
121LandoJuly/August 913 – February/March 914Sabina, Italy
120Anastasius IIIApril 911 – June 913Rome
119Sergius III29 January 904 – 14 April 911Rome
118Leo VJuly 903 – September 903Ardea
117Benedict IV900 – 903Rome
116John IXJanuary 898 – January 900Tivoli, Italy





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
115Theodore IIDecember 897Rome
114RomanusAugust 897 – November 897Gallese, Rome
113Stephen VI22 May 896 – August 897Roma
112Boniface VI4 April 896 – 19 April 896Roma
111Formosus19 September 891 – 4 April 896Ostia
110Stephen V885 – 14 September 891Rome
109Adrian III17 May 884 – c.September 885Rome
108Marinus I16 December 882 – 15 May 884Gallese, Rome
107John VIII14 December 872 – 16 December 882Rome
106Adrian II14 December 867 – 14 December 872Rome





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
105Nicholas I24 April 858 – 13 November 867Rome
104Benedict III855 – 7 April 858Rome
103Leo IVJanuary 847 – 17 July 855Rome
102Sergius IIJanuary 844 – 7 January 847Rome
101Gregory IV827 – January 844Rome
100ValentineAugust 827 – September 827Rome
99Eugene II8 May 824 – August 827Rome
98Paschal I25 January 817 – 11 February 824Rome
97Stephen IV12 June 816 – 24 January 817Rome
96Leo III26 December 795 – 12 June 816Rome





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
95Adrian I1 February 772 – 26 December 795Rome
94Stephen III1/7 August 767 – 24 January 772Sicily
93Paul I29 May 757 – 28 June 767Rome
92Stephen II26 March 752 – 26 April 757Rome
91Zachary3 December 741 – 14/22 March 752Greece
90Gregory III18 March 731 – 28 November 741Syria
89Gregory II19 May 715 – 11 February 731Rome
88Constantine25 March 708 – 9 April 715Syria
87Sisinnius15 January 708 – 4 February 708Syria
86John VII1 March 705 – 18 October 707Greece





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
85John VI30 October 701 – 11 January 705Greece
84Sergius I15 December 687 – 8 September 701Sicily
83Conon21 October 686 – 22 September 687Thrace, Hy Lạp
82John V12 July 685 – 2 August 686Syria
81Benedict II683/26 June 684 – 8 May 685Rome, Byzantine Empire
80Leo IIDecember 681 – 3 July 683Sicily
79Agatho27 June 678 – 10 January 681Sicily
78Donus2 November 676 – 11 April 678Rome, Byzantine Empire
77Adeodatus II11 April 672 – 17 June 676Rome, Byzantine Empire
76Vitalian30 July 657 – 27 January 672Segni, Byzantine Empire





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
75Eugene I10 August 654 – 2 June 657Rome
74Martin INear Todi, Umbria, Byzantine EmpireJuly 649 – 16 September 655
73Theodore I24 November 642 – 14 May 649Palestine
72John IV24 December 640 – 12 October 642Zadar, Dalmatia, now Croatia
71SeverinusOctober 638 – 2 August 640Rome
70Honorius I27 October 625 – 12 October 638Campania, Byzantine Empire
69Boniface V23 December 619 – 25 October 625Naples
68Adeodatus I19 October 615 – 8 November 618Rome
67Boniface IV25 August 608 – 8 May 615Marsi
66Boniface III19 February 607 – 12 November 607Rome





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
65Sabinian13 September 604 – 22 February 606Blera
64Gregory I3 September 590 – 12 March 604Rome
63Pelagius II26 November 579 – 7 February 590Rome
62Benedict I2 June 575 – 30 July 579Rome
61John III17 July 561 – 13 July 574Rome, Eastern Roman Empire
60Pelagius I16 April 556 – 4 March 561Rome
59Vigilius29 March 537 – 7 June 555Rome
58Silverius1 June 536 – 11 November 537Frosinone
57Agapetus I13 May 535 – 22 April 536Rome
56John II2 January 533 – 8 May 535Rome





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
55Boniface II22 September 530 – 17 October 532Rome
54Felix IV13 July 526 – 22 September 530/td>Samnium
53John I13 August 523 – 18 May 526Tuscany
52Hormisdas0 July 514 – 19 July 523Frosinone, Southern Latium, Italy
51Symmachus22 November 498 – 19 July 514Sardinia
50Anastasius II24 November 496 – 19 November 498Rome
49Gelasius I1 March 492 – 21 November 496Africa
48Felix III13 March 483 – 1 March 492Rome
47Simplicius3 March 468 – 10 March 483Tivoli, Italy
46Hilarius19 November 461 – 29 February 468Sardinia, Western Roman Empire





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
45Leo I29 September 440 – 10 November 461Rome
44Sixtus III31 July 432 – March/August 440Rome
43Celestine I10 September 422 – 27 July 432Rome, Western Roman Empire
42Boniface I28/29 December 418 – 4 September 422Roma
41Zosimus18 March 417 – 26 December 418
40Innocent I22 December 401 – 12 March 417Roma
39Anastasius I27 November 399 – 19 December 401Roma
38Siricius11 December 384 – 26 November 399Rome
37Damasus I1 October 366 – 11 December 384Idanha-a-Velha, Portugal
36Liberius17 May 352 – 24 September 366Roma





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
35Julius I6 February 337 – 12 April 352Rome
34Mark18 January 336 – 7 October 336Rome
33Sylvester I31 January 314 – 31 December 335Sant’Angelo a Scala, Avellino
32Miltiades2 July 311 – 11 January 314/td>Africa
31Eusebiusc.309 – c.310Cassano
30Marcellus I308 – 309Rome
29Marcellinus30 June 296 – 1 April 304Rome
28Caius17 December 283 – 22 April 296
27Eutychian4 January 275 – 7 December 283
26Felix I5 January 269 – 30 December 274Rome





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
25Dionysius22 July 259 – 26 December 268Greece
24Sixtus II30/31 August 257 – 6 August 258Greece
23Stephen I12 May 254 – 2 August 257Rome
22Lucius I25 June 253 – 5 March 254Rome
21Cornelius6/11 March 251 – June 253Rome
20Fabian10 January 236 – 20 January 250Rome
19Anterus21 November 235 – 3 January 236Greece
18Pontian21 July 230 – 28 September 235Rome
17Urban I222/223 – 230Rome
16Callixtus Ic.217 – 222/223Rome





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
15Zephyrinus199 – 217Rome
14Victor I189 – 198/199Northern Africa
13Eleuterus174/175 – 189Nicopoli, Epyrus
12Soterc.166 – 174/175Fondi, Latium, Italy
11Anicetus155 – 166Emesa, Syria
10Pius I140/142 – 155Aquileia, Friuli, Italy
9Hyginus136/138 – 140/142Greece
8Telesphorus125 – 136/138Greece
7Sixtus I115/116 – 125Rome or Greece
6Alexander I105/107 – 115/116Rome





Thứ Tự
Hình
TênNhiệm KỳNơi Sinh
5Evaristus97/99 – 105/107Bethlehem, Palestine
4Clement I88/92 – 97/101Rome
3Anacletus76/79(?) – 88
2Linus64/67(?) – 76/79(?)Tuscia (Northern Latium)
1St. Peter30 – 64/67Bethsaida, Galilea

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Bluehost Coupons