26 tháng 3, 2012

LINH MỤC VÀ LUẬT ĐỘC THÂN


  LINH MỤC VÀ LUẬT ĐỘC THÂN

Email In
pretre_sLuật độc thân dành cho linh mục trong giáo hội Công giáo vẫn được nhiều người quan tâm, và trong thời gian gần đây lại được một số cổ võ cho vấn đề để linh mục lập gia đình.
Tháng 8 năm 2003, hơn 160 linh mục trong tổng giáo phận Milwaukee, Hoa Kỳ, ký đơn xin tổng giám mục Timothy Dolan cho họ được đem vấn đề Luật Độc Thân của linh mục ra bàn luận trong hội đồng linh mục, và họ yêu cầu luật này phải được coi là một Sự Lựa Chọn hơn là một Sự Bắt Buộc.
Gần đây, khi một số anh em linh mục Anh giáo xin gia nhập giáo hội Công giáo, đề tài Luật Độc Thân của linh mục cũng được đem ra bàn luận vì phần lớn những anh em Anh giáo đã có gia đình.
Riêng với giáo hội Công giáo La Mã, chúng ta hiểu gì về luật độc thân của linh mục? Trong bài này, tôi xin trình bày về lịch sử luật độc thân trong giáo hội hơn là ý nghĩa linh đạo của luật này.
Giáo Hội Công Giáo La Mã và Các Giáo Hội khác
Một trong những hiểu lầm của nhiều người ngoài Công giáo là đồng hoá vấn đề linh mục độc thân với những tín điều hay tín lý của giáo hội. Họ cho rằng trong Thánh Kinh, một số các tông đồ không sống độc thân, tại sao giáo hội Công giáo La Mã lại bắt các linh mục ngày nay sống độc thân? Một số anh em Tin Lành cực đoan còn kết án giáo hội Công giáo là đi ngược lại những gì không có trong Thánh Kinh.
Với giáo hội Công giáo, chính sách độc thân chỉ áp dụng cho linh mục của giáo hội Công giáo La Mã, vì giáo hội Công giáo Đông Phương không bắt các linh mục của họ sống độc thân. Cũng như giáo hội Chính Thống hay những giáo hội Đông Phương (nhưng không là Công giáo), giáo hội Công giáo Đông Phương cho phép linh mục được lập gia đình, nhưng không cho phép những người độc thân nhận chức linh mục lập gia đình sau khi đã làm linh mục. Nghĩa là, họ được phép lập gia đình trước khi chịu chức linh mục, nhưng không được phép sau khi nhận chức linh mục.
Với những người lập gia đình, nếu vợ qua đời, họ không được phép tục huyền (lấy vợ khác). Riêng với giám mục, giáo hội Công giáo Đông Phương chỉ chọn từ những linh mục độc thân mà thôi.
Trong giáo hội Công giáo La Mã, luật độc thân áp dụng cho linh mục và giám mục. Nhưng đây không là vấn đề thần học hay tín điều, nhưng chỉ là vấn đề kỷ luật mục vụ trong giáo hội mà thôi.
Chúng ta cùng nhau tìm hiểu luật mục vụ được giáo hội đặt ra trong lịch sử.
Những Thời Điểm Quan Trọng
Lịch sử luật độc thân thật ra không đồng nhất trong thời kỳ đầu của giáo hội. Bắt nguồn từ Do Thái giáo, những Kitô hữu đầu tiên thi hành những luật áp dụng cho Tư Tế trong đạo Do Thái. Những tư tế không được ăn ở với vợ trước khi dâng lễ hiến tế.
Đức giáo hoàng Siricus, trong một sắc lệnh ban bố ngày 10 tháng 2 năm 385 Directa Decretal đã nói đến tư tưởng bắt nguồn từ Cựu Ước này: "Chúng ta đã khám phá trong lời sách Lêvi, Đức Chúa phán: "Các ngươi phải nên thánh và phải thánh thiện, vì Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi." (Lêvi 20:7). Tại sao Chúa cảnh cáo những người làm công việc thánh thiêng những lời này: "Các con phải nên thánh như ta là thánh" (Lev 20:7). Cũng thế, tại sao những thầy Tư Tế nhận lệnh là trong suốt thời gian đến phiên trực Đền Thánh, họ bắt buộc phải sống trong đền thánh, xa gia đình? Điều qúa rõ ràng là vì như thế họ không bị tư tưởng xác thịt quyến rũ nghĩ đến đàn bà, ngay cả vợ họ, và như thế, lương tâm họ sáng láng, và họ có thể hiến dâng cho Thiên Chúa những của lễ xứng đáng của họ. Những người này, sau khi đã hoàn tất sứ vụ của họ, được phép về nhà với ăn ở với vợ chỉ cho một mục đích duy nhất là sinh con nối dõi, vì không ai ngoại trừ người thuộc dòng dõi Lêvi có thể được phép làm công việc hiến tế này"[1]
Trong Tân Ước, một số các tông đồ có gia đình (như trường hợp Phêrô đến nhà mẹ vợ Mk 1:30). Nhưng cũng có trường hợp độc thân như thánh Phaolô: "Với những người độc thân và quả phụ, tôi nói thế này: họ cứ ở vậy như tôi thì tốt cho họ" (1 Cor 7:8).[2]
Điều rõ ràng là vai trò của những người lãnh đạo cộng đoàn Kitô hữu thời đó (tương đương với các giám mục ngày nay),[3] là những người có gia đình. Trong thư thánh Phaolô gởi cho Timôthê, Ngài nêu lên người tiêu chuẩn cần thiết để chọn một người làm giám quản: "Vậy giám quản phải là người không ai chê trách được, chỉ có một đời vợ, tiết độ, chừng mực, nhã nhặn, hiếu khách, có khả năng giảng dạy; người ấy không được nghiện rượu, không được hiếu chiến, nhưng phải hiền hoà, không hay gây sự, không ham tiền, biết điều khiển tốt gia đình mình, biết dạy con cái phục tùng cách rất nghiêm chỉnh, vì ai không biết điều khiển gia đình mình, thì làm sao có thể lo cho Hội Thánh của Thiên Chúa được? Người ấy không được là tân tòng, kẻo lên mặt kiêu căng mà bị kết án như ma quỷ. Người ấy còn phải được người ngoài chứng nhận là tốt, kẻo bị sỉ nhục và sa vào cạm bẫy ma quỷ." (1 Tim 3:2-8).
Luật độc thân cho linh mục được giáo hội cổ võ và dần dần bắt buộc áp dụng cho các linh mục qua thời gian.
Vào giữa thế kỉ thứ hai, ở Bắc Phi, giáo phụ thần học gia Tertullian (160-225) tin là các tông đồ kiêng khem việc xác thịt khi làm việc mục vụ.[4] Trong tác phẩm De praescriptione haereticorum (Những Qui Định Chống Lại Lạc Giáo), Tertullian nói đến kiêng khem tính dục là một trong những thói quen của giáo phái Mithra (phát triển ở Tiểu Á và Trung Đông) mà theo ông là họ bắt chước từ Kitô giáo.[5]
Trong Didascalia Apostolorum, viết bằng tiếng Hy Lạp vào nửa đầu thế kỷ thứ ba, tác giả cũng nói đến yêu cầu cần thiết về điều kiện sống tiết dục cho những giám mục và những người vợ của họ (không được quan hệ vợ chồng), và đòi hỏi những người trước khi được phong giám mục phải hứa "liệu có sống khiết tịnh, và liệu vợ họ có là một người có đức tin và hứa sống khiết tịnh, và liệu người đó có chăm lo cho con cái trở nên những người con kính sợ Thiên Chúa không."[6]
Nhiều bằng chứng cho thấy có nhiều giám mục trong thế kỷ thứ ba có gia đình như Passivus, giám mục Fermo, Cassius, giám mục Narmi, Aetherius, giám mục Vienne, Aquilinus, giám mục Évreux, Faron, giám mục Meaux, Magnus, giám mục Avignon, Filibaud, giám mục Aire-sur-l'Adour, là cha của thánh Philibert de Jumièges, Sigilaicus, giám mục Tours và là cha của thánh Cyran of Brenne. Điều chúng ta không rõ là là các giám mục này có con sau khi làm giám mục hay chỉ trước khi làm giám mục.
Luật độc thân được áp dụng rõ ràng hơn bắt đầu từ thế kỉ thứ tư. Năm 313, đại đế Constantine chấm dứt tất cả những áp bức và bắt bớ Kitô hữu qua việc hợp thức hoá Kitô giáo. Từ đó Kitô giáo được công khai sinh hoạt.
Vào thời kỳ này, giáo hội phải đương đầu với rất nhiều những lạc giáo, nào là những giáo phái từ chối thiên tính hay nhân tính của Chúa Giêsu Kitô, từ chối vai trò Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, từ chối sự tiếp nối giữa Cựu Ước với Tân Ước... nói chung là giáo hội có rất nhiều vấn nạn để đối phó. Bên cạnh đó, đời sống của phó tế, linh mục và giám mục cũng cần phải có những qui định cụ thể để ổn định và thống nhất đời sống sinh hoạt của giáo hội.
Những qui định được biểu quyết qua các hội nghị hay công đồng, dù không được áp dụng đồng nhất, nhưng chắc chắn được phổ biến rộng rãi trong giáo hội.
Đầu thế kỷ thứ tư, các thánh giáo phụ Ambrose và Jerome cũng đồng ý rằng giám mục có gia đình thì không trái ngược với luật của Chúa, nhưng nếu là giám mục thì phải biết sống kiêng khem và nếu vợ chết thì không được tục huyền.[7]
Công đồng miền họp tại Elvira (năm 306) đòi buộc các giám mục, linh mục phải kiêng khem hoàn toàn với vợ, đòi hỏi họ không được sinh con. Ai vi phạm thì bị kỷ luật và bị loại bỏ (luật 33).[8]
Công đồng chung Nicea năm 325, trong điều luật 3 nói: "cấm tất cả giám mục, linh mục, phó tế hay bất cứ tu sĩ (nam) không được có một người nữ ở với mình, ngoại trừ người đó là mẹ, chị em gái, dì hay những người không tạo nên nghi ngờ."
Thư của Đức giáo hoàng Siricus từ Roma (năm 385) và công đồng họp ở Carthage (năm 390) cũng lặp lại luật này, là bắt buột tất cả những giám mục, linh mục, hay phó tế đang có gia đình, không được ăn ở vợ chồng. Công đồng viện lý do là việc làm này có truyền thống từ thời các tông đồ.[9]
Từ thế kỷ thứ năm trở đi, giáo hội Công giáo tây phương đòi hỏi những ứng viên làm linh mục, giám mục phải hứa sống độc thân. Lời hứa được công đồng miền vùng Orange (năm 441) và Arles (năm 524) chấp thuận. Đến cuối thế kỷ thứ 9, công đồng miền vùng Metz và Mainz cũng nhắc lại việc cấm linh mục, giám mục lập gia đình.
Sở dĩ giáo hội lặp đi lặp lại việc sống độc thân của linh mục trong nhiều công đồng vì thời kỳ đó, dù luật là không được lập gia đình, nhưng trong thực tế Kitô hữu vẫn có liên lạc giữa giáo hội Tây Phưong và Đông Phương, mà giáo hội Đông Phương không theo luật đặt ra của giáo hội Tây Phương, nên một số linh mục trong thực tế vẫn lập gia đình (nên biết giáo hội Đông-Tây chia rẽ năm 1054).
Cuối thế kỷ mười một, Đức giáo hoàng Gregoria đã cải tổ luật giáo hội trong đó có luật độc thân và bắt buộc áp dụng cho mọi linh mục, giám mục.
Công đồng Lateran I (năm 1123) nhấn mạnh: "Chúng tôi tuyệt đối cấm linh mục, phó tế, phụ phó tế không được liên hệ với phụ nữ, hay sống với họ như điều khoảng 3 công đồng Nicea công bố, với lí do cần thiết được phép, những người đó là mẹ, chị em, hay cô dì, hay bất cứ một người nữ nào mà không gây nghi ngờ" (Điều 3). Nếu có linh mục hay phó tế... nào vi phạm luật này mà lập gia đình, công đồng công bố là hôn nhân đó cần phải được giải, và người đó phải bị lên án và chịu kỷ luật (điều 21).
Công đồng Lateran II (năm 1139) tái khẳng định: (1) những linh mục, phó tế hay phụ phó tế nào vi phạm luật độc thân sẽ bị loại trừ khỏi chức vụ (điều khoản 6); và (2) theo lời dạy của các giáo hoàng tiền nhiệm Gregory VII, Urbano, và Paschal, công đồng cấm giáo dân dự lễ những linh mục vi phạm luật này (điều khoản 7).[10]
Công đồng Trento (1545-1563), trong phiên họp thứ 24, đã khẳng định lại giáo huấn này. Tiếp tục lời phán quyết của công đồng Lateran II, công đồng Trentô còn tuyên bố là những hôn nhân của những người vi phạm này là Vô Hiệu (không có hiệu lực, hay không thành): "Nếu ai nói rằng, những tu sĩ đã có chức thánh, hay có những lời khấn trọng giữ mình khiết tịnh, mà lại lập gia đình, thì hôn phối đó vô hiệu" (điều 9).
Từ thế kỉ 16, các giáo phái Tin Lành cổ động cho việc tu sĩ lập gia đình, giáo hội Công giáo La Mã vẫn giữ vững luật độc thân cho các nam nữ tu sĩ, nhất là cho linh mục.
Kết Luận
Luật độc thân dành cho linh mục Công giáo là một quyết định có tính cách kỷ luật về mục vụ hơn là thần học. Giáo hội tiếp tục khẳng định lời cam kết này trong những giáo huấn hiện tại. Chúng ta có thể kết thúc đề tài này với lời dạy trong Giáo Lý Công Giáo số 1579: "Trong Giáo Hội La-tinh, trừ các phó tế vĩnh viễn, mọi thừa tác viên có chức thánh thường được tuyển chọn từ những người nam sống độc thân và có ý giữ độc thân "vì Nước Trời" (Mt 19,12). Ðược mời gọi tận hiến cho Chúa để "lo việc của Người" (x. 1Cor 7, 32), các ngài hiến thân trọn vẹn cho Thiên Chúa và con người. Ðời sống độc thân là dấu chỉ của sự sống mới mà các thừa tác viên của Hội Thánh được thánh hiến để phục vụ. Nếu hân hoan đón nhận đời sống độc thân này, các ngài sẽ loan báo Nước Trời hữu hiệu hơn (x. PO 16).
Số 1580: "Trong các Giáo Hội Ðông Phương, từ nhiều thế kỷ nay, có một tập tục khác: chỉ các giám mục được tuyển chọn trong những người độc thân; còn linh mục và phó tế có thể được tuyển chọn trong những người đã lập gia đình. Tập tục này từ lâu vẫn được coi là chính đáng. Các linh mục này thi hành thừa tác vụ hữu hiệu giữa cộng đoàn (x. PO 16). Hơn nữa, sự độc thân của các linh mục rất được trân trọng trong các Giáo Hội Ðông Phương và nhiều linh mục đã tự nguyện sống độc thân vì Nước Trời. Ở Phương Ðông cũng như Phương Tây, người đã nhận chức thánh không được phép lập gia đình nữa."
[1] Trích trong Epistola Decretalis Papae Siricii, VII. De clericis incontinentibu.
[2] Đoạn kinh thánh này thuyết phục nhiều người tin rằng Phaolô là một người độc thân, không lập gia đình. Có người trích: "Phải chăng tôi không có quyền ăn uống, không có quyền đem theo một người chị em tín hữu như các tông đồ khác, như các anh em của Chúa và như ông Kêpha?" (1 Cor 9:4-5) và nói Phaolô có vợ. Thật ra, đây không là một bằng chứng rõ đủ để nói lên điều đó, mà có thể câu nói để biện minh về quyền có gia đình thì đúng hơn, nghĩa là, Phaolô cũng như bao người khác có quyền lập gia đình, và nếu có gia đình thì họ có quyền đem theo vợ trong khi làm công việc mục vụ như Phêrô hay các tông đồ khác. Có người khác cho là Phaolô đã có gia đình nhưng có thể vợ chết, hoặc li dị vợ nên sống đời độc thân. Không có tài liệu chính xác nào nói đến những đồn đãi này, ngoại trừ người ta biết chắc là sau khi trở lại, Phaolô sống như một người độc thân.
[3] Danh từ được dùng trong Thánh Kinh bằng tiếng Hy Lạp là episkopos để chỉ những người mà Tân Ước tiếng Việt dịch là Giám quản. Cũng danh từ đó, ngày nay ta gọi là giám mục.
[4] Xem trong De Monogamia, ch. VIII.
[5] "Habet et uirgines, habet et continentes" (Họ cũng có những người đồng trinh; họ cũng có những người kiêng khem) trích trong De praescriptione haereticorum, XL, 5.
[6] Trích trong Didascalia Apostolorum, ch. IV, ii, 2.
[7] Xem Saint Ambrose, Epistle LXIII, 62.
[8] Thật ra, không chỉ giám mục và linh mục, công đồng còn đòi hỏi cả phó tế và những người làm mục vụ ở những chức vụ khác nữa. Xem Canon 33.
[9] Xem Công đồng Carthage, canon 3.
[10] Trước đó, Đức giáo hoàng Nicholas II (năm 1059) và Đức giáo hoàng Gregory VII (năm 1075) đã cấm các linh mục vi phạm luật độc thân làm lễ, và cấm giáo dân đến dự lễ họ dâng, và cấm các vị này thi hành các chức vụ trong giáo hội.

LÀM SAO BIẾT CÓ THIÊN CHÚA?

Sự hiện diện của Thiên Chúa là một điều hiển nhiên đối với con người, như lời Cicéron, nhà hùng biện và văn sĩ thời danh sống ở thế kỉ I TCN: “Có dân tộc, có gia đình nào mà không biết có thần thánh trước khi biết những khoa học khác”.
Dẫu vậy, ta nên nhất trí với nhau ở một số điểm, trước khi trao đổi với nhau sự hiện diện của Thiên Chúa.
1.     Không nên tham vọng chúng lý trí toán học hay khoa học để quán triệt về Thiên Chúa, vì đây là phạm vi đức tin siêu hình. Một Thiên Chúa mà khoa học có thể phân tích, chứng minh được như những thực tại khác thì không phải là Thiên Chúa.
2.     Mầu nhiệm về Thiên Chúa, đức tin luôn luôn có một pần mà lý trí không thể đạt tới. Những gì lý trí đạt tới chỉ là tính cách loại suy. Phần mà lý trí không đạt tới gọi là phần mờ tối của đức tin. “ Sau này” như Thánh Phao lô nói, ta mới thấy rõ.
3.     Trước lí chứng về Thiên Chúa hiện hữu, con người được kêu mời tự do chấp nhận hay khước từ. Quyết định này tùy thuộc vào lòng mến, sự khao khát tìm kiếm lời cầu xin và thiện chí của con người. “ Lạy Cha, Cha đã dấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều đó, nhưng lại mặc khải cho những kẻ bé mọn, vì ý Cha muốn như vậy”
I. Vũ trụ vạn vật làm chứng có Thiên Chúa
    1. Khi ta thưởng thức một công trình tuyệt vời, ta phải nghĩ tới người thực hiện và điều khiển công trình đó. Công trình càng tuyệt vời thì người thực hiện công trình đó càng thông minh và tài giỏi.
 Trật tự, sự chuyển động chính xác và hài hòa của giải ngân hà những tinh cầu vô cùng lớn cho đến những nguyên tử vô cùng bé nhỏ, sự phong phú kì diệu và vẻ đẹp muôn màu của muôn  loài muôn vật… cho ta suy đoán chắc chắn về một Đấng vô cùng thông minh, quyền năng, là nguồn gốc và cùng đích của vũ trụ (GLC 32).
 Diderot nói: “ Mắt và cánh của một con bướm đủ đánh đổ nhà vô thần”.
Thánh Augustino: Vẻ đẹp của vũ trụ là một lời tuyên xưng. Những cái đẹp này đều chịu sự thay đổi, vậy thì ai đã làm nên những vẻ đẹp này, nếu không phải là Đấng đẹp tuyệt vời.
     2. Nhìn mọi vật xung quanh và cả chính bản thân ta, hết thảy đều đã có lúc xuất hiện rồi có lúc biến đi. Vậy nếu như ta tự có nguồn sống thì ta bất diệt và tồn tại mãi, nhưng thực tế không vậy. Điều này chứng tỏ nguồn sống không ở trong ta nhưng ở một nơi Đấng khác. Đấng ấy là chính sự sống vĩnh cửu.
Kết luận: Không thể mọi sự do ngẫu nhiên, phải có Đấng Tạo Thành.
II. Con người và những giá trị cao quý nơi con người làm chứng về Thiên Chúa.
1. Niềm khát vọng về Thiên Chúa, về tuyệt đối đã được ghi sâu trong tâm hồn con người bởi vì con người đã được dựng nên do Thiên Chúa và cho Thiên Chúa. Con người không thỏa mãn khát vọng của minh nơi những thực tại trần thế. Chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm thấy chân lí tuyệt đối và hạnh phúc mà con người không ngừng tìm.
2. Nơi con người có sự cởi mở,           đón nhận chân lí và cái đẹp có cảm thức về điều thiện luân lí, có ý thức về tự do và lương tâm. Đó là dấu hiệu, là mầm sống của vĩnh cửu mà con người mang trong mình và không thể giảm thành vật chất mà thôi. Cho nên, linh hồn của con người chỉ có thể có nguồn gốc từ nơi Thiên Chúa.
Con người là một sinh vật có luân lí tính, nghĩa là mỗi hành vi của nó đều được hướng dẫn và phê phán do một quy luật tự nhiên đã được khắc vào tâm hồn, ta gọi đó là lương tâm hay quy luật đạo lí.
Sự hiện hữu của luật này được biểu lộ trong việc: phê phán nhau về hành vi tốt xấu – ta tự phê phán chính mình về hành vi tốt xấu, và như vậy, luật này hay lương tâm phải độc lập tôi và làm quan tòa phê phán mọi hành động của tôi. Tôi không tự đặt ra quy luật đó, vì nó có trước cả tôn giáo và xã hội. Tôn giáo chỉ đến sau và quảng diễn nó mà thôi.
Vậy tất cả những đặc tính của luật này đòi hỏi phải được đặt nền tảng trên mọi sự Thiện tuyệt đối, một Đấng Siêu Việt mà ý muốn của Ngài là điểm quy chiếu cho hết mọi ý muốn. Chính Ngài là lý do để cho con người có mặt trên cõi đời này.
Đấng Tuyệt Đối ấy chính là Thiên Chúa.

ĐẠO NÀO CŨNG GIỐNG ĐẠO NÀO ĐỀU DẠY NGƯỜI TA ĂN NGAY Ở LÀNH?

Ta thường gặp câu nói này trong khi tiếp súc với người lương dân. Xét theo một cách khách quan đây chỉ là câu nói chân thành của người bình thường, nhưng cũng có khi kà sự thoái thác khéo léo để khỏi phải tiến xa hơn hoặc là một cách thức từ chối tranh luận.
- Tôn giáo là sự thiết lập mối quan hệ giữa con người và Thiên Chúa chứ không phải nhằm khuyến thiện nghĩa là phổ biến truyền dạy những điều khoản luân lý: thờ cha kính mẹ, ăn ngay ở lành, cấm trộm cướp, giết người, trai gái tà dâm… Luân lý chỉ là một phần của tôn giáo. Những ý niệm về luân lý cơ bản như thế thì người nào cũng có chứ chẳng cần phải tôn giáo (lương tâm). Xét chung các tôn giáo cũng có phần luân lý gần giống nhau – chúng ta nói gần giống nhau là vì bác ái của Ki tô giáo khác với từ bi hỉ xả của Phật giáo, khác với ở lành của đạo tự nhiên và nhiều điều luân lý của đạo Công Giáo không giống với chủ trương của các tôn giáo khác. Nhưng phần giáo lý thì khác xa nhau: ví dụ giữa Phật giáo và Công giáo, giữa Hồi giáo và Công giáo.
- Do đó không thể nói đạo nào cũng giống đạo nào và không thể trưng dẫn một phần về luân lý giống nhau để chứng minh cho phát biểu trên. Vì thế cần lựa chọn.
      Ki tô giáo được coi là tôn giáo ưu việt vì có giáo lý do Thiên Chúa truyền; thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa con người và Thiên Chúa, thỏa mãn khát vọng sâu xa của con người là tìm về Chân Thiện Mỹ. Còn về luân lý cương thường thì mười điều răn, giáo huấn Phúc Âm của Thiên Chúa có tính tích cực, độc đáo sâu xa và siêu nhiên chứ không nằm ở bình diện con người tự nhiên. Sự ưu việt đó và đúng đắn này có được là sự tỏ bày của Thiên Chúa qua Chúa Giê su trong biến cố nhập thể, giáng sinh. Biến cố ấy thiết định thiết định sự can thiệp của Thiên Chúa vào lịch sử, biến đổi kiếp người và cấu thành một sự mới lạ tuyệt đối. Đó là điểm làm cho Ki tô giáo khác biệt hẳn với các tôn giáo khác.

TÔN GIÁO CÓ NHIỀU ĐIỀU KHÓ HIỂU, KHÔNG HỢP LÝ LUẬN NÊN KHÔNG ĐÁNG TIN?

Đây là lập luận của những người chủ trương duy lý, duy khoa học. Họ muốn đặt tất cả trong suy nghĩ trong tầm tay của con người, khoa học đều giải thích được mọi điều. Trong tôn giáo, vì có những điều không thể dùng lý trí để suy giải được nên họ phủ nhận cho là không đáng tin. Thực ra thì lý trí, khoa học có thể giải đáp được mọi điều hay không?
1. Thế nào là khó hiểu, vô lý?
- Một điều là khó hiểu có thể vì muốn hiểu thì phải có kiến thức nền tảng hoặc vì hiện nay chưa khám phá ra kiến thức nền tảng đó. Hoặc không bao giờ hiểu được vì nó vượt hẳn lý trí và phương tiện chứng nghiệm của con người.
- Một điều là vô lý hoặc không hợp với lý kuận, khi tự bên trong căn bản, nó có những yếu tố hoàn toàn mâu thuẫn nhau và do đó nó nghịch lại với quy tắc của lý trí con người. Vì thế không thể kết luận một điều chưa hiểu hoặc không hiểu là vô lý hoặc không đúng.
2. Trong lãnh vực tôn giáo.
- Trong đạo Công Giáo có những điều khó hiểu được gọi là MẦU NHIỆM. Những điều đó khó hiểu vì đó không phải là sản phẩm cùng đối tượng của trí năng con người, nhưng thuộc về thực tại cao siêu, Thiên Chúa không tỏ cho thấy hết ý định của Ngài cũng như thực tại siêu việt. Một điều mà đầu óc anh cũng như tôi còn chưa hiểu phương chi làm sao có thể hiểu được Thiên Chúa một cách dễ dàng, và không vì thế mà có thể kết luận những điều không hiểu là vô lý. “ Nó không phải là bức tường ngăn cách trí khôn, nhưng là một đại dương lớn dìm nhận trí khôn” ( G.Thibon). “ Vật hữu hạn như ta mà lại muốn dùng toán học để tìm hiểu Đấng Vô Hạn là điều không thể”(Canchy).
- Tôn giáo có những điều khó hiểu, có phải vì thế mà không đáng tin?
- Nếu mà tôn giáo chứa đựng nhiều điều vô lý phi luân thì quả là không đáng tin.
Nhưng đây không thế, trong tôn giáo có những điều khó hiểu nhưng không hề vô lý vì nó vượt trên tầm hiểu biết của con người.
Người ta không thể kết luận: những điều không thấy, không hiểu, không chứng minh được là vô lý, không có, không đáng tin. Bởi nếu thế thì khoa học trả lời thế nào về sự tồn tại của muôn vàn hiện tượng hoặc sự việc mà khoa học không giải thích được. Chính  Laplace đã thú nhận: “ Cái chúng tôi biết thì không có mấy, cái chúng tôi không biết thì nhiều vô kể”.
- Nếu xóa bỏ mọi điều khó hiểu ra khỏi Tôn Giáo hoặc nếu con người biết hết về Thượng Đế về tôn giáo thì tôn giáo không còn là tôn giáo nữa và thượng đế không còn là thượng đế nữa. Xét như thế thì những mầu nhiệm trong đạo không làm giảm bớt lòng tin, nhưng lại càng củng cố them, chứng tỏ đặc tính của niềm tin là một sự dấn thân chấp nhận cả nhưng điều chưa hiểu vì mến Chúa. Hơn nữa, quả quyết có những mầu nhiệm, không có ý chối bỏ lý trí, nhưng nhìn nhận giới hạn của con người, đồng thời suy phục sự khôn ngoan thượng trí của Thiên Chúa.

CHỈ CÓ NHỮNG NGƯỜI NGU DỐT, ÍT HỌC NGHÈO ĐÓI MỚI TIN CÓ THIÊN CHÚA CÒN NHỮNG AI CÓ TRÌNH ĐỘ ĐỀU KHÔNG TIN?

Theo triết học gia Auguste Comte ( thế kỉ XIX, Pháp) thì cuối cùng giai đoạn khoa học sẽ thắng và thay thế giai đoạn thần học cũng như siêu hình, khoa học sẽ loại bỏ những sản phẩm do óc con người sáng tạo ra. Con người dựa trên lý trí mà phê phán về mọi sự . Như thế, chỉ những gì thuộc phạm vi kinh- thực nghiệm mới thật. Do đó theo ông, con người có tôn giáo là những con người sống trong giả tưởng, trong giai đoạn ấu trĩ của con người, chưa biết gì về ánh sáng khoa học.
Trả lời vấn nạn trên:
1. Cần phải phân biệt mê tín dị đoan với tôn giáo chân thật.
- Mê tín dị đoan là: tin tưởng sai lạc, một hình thức tha hóa, như tin thờ sức mạnh thiên nhiên, các ngẫu tượng, cho đó là thần linh.
- Tôn giáo chân thật là: Ki tô giáo là một tôn giáo đích thực vì tôn thờ Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa là nguyên nhân duy nhất của vạn vật. Việc tôn thờ này không mang tính chất huyền hoặc, tưởng tượng, sai lầm (mê tín dị đoan). Auguste Comte đã võ đoán khi đồng hóa Ki tô giáo với những hình thức tôn giáo sai lạc, suy đồi và đồng thời sai lầm nghiêm trọng khi dùng chữ “ TIN VÀO CHÚA” để ám chỉ tất cả mọi hình thức tôn giáo, cả hình thức sai.
2. Nhìn vào thực tế khoa học không làm biến mất tâm tình tôn giáo chân thật.
- Theo thống kê năm 1992 của giáo hội Công giáo thì trên thế giới có 950 triệu người Công Giáo và là giáo hội đông nhất toàn cầu; trong đó; châu Âu là 80% dân số, châu Mỹ là 85% dân số, châu Úc là 80% dân số, châu Á là 
7% dân số, châu Phi là 25% dân số. Nhìn vào thống kê này, ta có thể rút ra kết luận của A. Comte thì châu Âu, châu Mỹ, châu Úc là những châu dốt nát, nghèo đói hơn châu Á, châu Phi sao? Đa số các nhà khoa học là những người đều tin có Thiên Chúa (bản thống kê của M. Egmien). Trong số 432 nhà bác học thuộc thế kỉ XIX, thì 34 người không rõ lập trường tôn giáo, còn 398 người phân chia như sau: 15 người dửng dưng, 16 vô thần, 367 người có tín ngưỡng (tức 92%). Bác sĩ Denncert người Đức cũng đã công bố bản điều tra của ông về tôn giáo của 300 nhà khoa học lỗi lạc nhất thuộc bốn thế kỉ vừa qua: “ 38 không rõ quan niệm 20 người dửng dưng còn 242 người tin Thiên Chúa ( tức 92%)”. Những sự kiện đó cho thấy rằng khoa học và tôn giáo không mâu thuẫn nhau, vì tôn giáo không phải là đối tượng của khoa học, nghĩa là khoa học tự bản chất không thể nối rằng có hoặc không có Thiên Chúa. Có biết bao nhiêu điều khoa học không thể quan sát được, thực nghiệm được nhưng vẫn có thực như; tư tưởng, ý trí, kí ức…huống chi là linh hồn, là Thiên Chúa. Nó cũng cho thấy rằng tôn giáo không chỉ là của những kẻ ngu dốt, nghèo đói nhưng kà của những ai thiện chí thành tâm và được ơn trên ban cho.

2 tháng 1, 2012

Tháng 01/2012

Ban Điều Hành Gia Đình Lửa Hồng xin được thông báo chủ đề tháng 1 là: " TÌNH YÊU ". Anh chị em suy nghĩ gì về hai từ trên?

23 tháng 12, 2011

Giới Thiệu

Gia Đình Lửa Hồng - được chị Maria Ngô Thanh Phương và một số thành viên quy tụ thành lập vào ngày 01/07/2006. Gia Đình Lửa Hồng không những là nơi dành cho mọi người có thể chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm đời sống mà còn là nơi dành cho tất cả những ai yêu thích đời sống cầu nguyện và hướng về những anh chị em nghèo khổ, bất hạnh trong cuộc sống.
Theo thời gian, hiện nay Gia Đình Lửa Hồng có 23 thành viên, trong đó có 11 thành viên chính thức và 12 thành viên đang trong thời gian thử thách.
Mỗi tháng Gia Đình tổ chức họp mặt một lần để nối lại tình thân giữa anh chị em, để rút kinh nghiêm cho tháng trước và đưa ra những phương hướng cho tháng tiếp theo.
Bên cạnh đó, mỗi tháng tất cả các thành viên tham gia viết bài với chủ đề riêng của tháng.
Qua 6 năm thành lập, Gia Đình Lửa Hồng đã trải qua biết bao thăng trầm của cuộc sống, biết bao khó khăn, thử thách nhưng chúng con hy vọng rằng trong thời gian tới xin mọi người thêm lời cầu nguyện cho Gia Đình Lửa Hồng chúng con.

19 tháng 12, 2011

Tháng 12

Tháng 12 là tháng chúng ta đón mừng Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Vì tình yêu Ngài đã mặc lấy kiếp con người xuống thế để yêu thương chúng ta. Vậy Gia Đình xin thông báo chủ đề tháng 12 như sau: "TÌNH YÊU". Anh chị em hãy nói lên suy nghĩ của mình về hai chữ trên để nói lên cảm nghiệm, những suy tư của bản thân.

Tháng 11

Tháng 11 - tháng cầu nguyện cho các linh hồn
Tháng 11 mời gọi tất cả mỗi người chúng ta nhớ về các bậc tiền nhân, ông bà cha mẹ. Vậy Gia Đình Lửa Hồng xin thông báo chủ đề tháng 11: " Tình Cha Nghĩa Mẹ". Anh chị em hãy viết lên những suy nghĩ của mình về cha mẹ để một lần nữa chúng ta nói lên sự biết ơn, tình yêu mến của minh với cha mẹ.

Liên Hệ

Mọi ý kiến đóng góp xin các bạn liên hệ:
Trưởng ban Điều Hành: Maria Ngô Thanh Phương

Admin: Paul. Ngô Văn Hưng
Email:paulngovanhung93@gmail.com
Sđt:0977448671

Xin Chân Thành cảm ơn các bạn!

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Bluehost Coupons